Hiển thị các bài đăng có nhãn hóa chất tẩy rửa chiller. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hóa chất tẩy rửa chiller. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

Ban rất cần phải lưu ý vấn đề tẩy rửa đường ống làm lạnh và cooling và chiller vì những lý do sau.

tẩy rửa đừng ống cooling chiller

  1. Trong hệ thống đường mới của hệ thống lạnh chứa nhiều thành phần: dầu mỡ tích tụ từ quá trình bôi trơn ở các mối nối, thực hiện lắp ghép các bộ phận thiết bị của hệ thống lạnh
  2. Trong đường ống mới còn chứa nhiều các gỉ kim loại (Fe2O3, FeO, Al2O3, CuO…) được hình thành từ việc Oxi hóa của Oxi trong môi trường không khí tác động lên bề mặt kim loại trong suốt thời gian lắp đặt hệ thống.
  3. Nếu các thành phần dầu mỡ và và gỉ kim loại này không được tẩy rửa trước khi hệ thống lạnh đi vào hoạt động thì sẽ gây ra các ảnh hưởng không tốt đến hệ thống như gây ra cáu cặn và ăn mòn trong hệ thống.
  4. Các gỉ kim loại có thể là các điểm diễn ra quá trình ăn mòn trong hệ thống đường ống.
  5. Các gỉ kim loại đóng bám trên bề mặt truyền nhiệt của các ống đồng trao đổi nhiệt trong hệ thống condenser và chiller cũng làm giảm hiệu quả truyền nhiệt của thiết bị, gây tiêu tốn nhiên liệu.
  6. Các thành phần dầu mỡ nhẹ nổi lên trên mặt nước gây ra tình trạng nhiễm bẩn, ảnh hưởng đến thiết bị tiếp xúc trực tiếp với nước giải nhiệt.

Javel là chất oxihóa mạnh do đó rất hiệu quả trong việc diệt rong rêu hệ thống lạnh nhưng chưa chắc đã tốt cho hệ thống lạnh của bạn.

diệt rêu tảo trong hệ thống lạnh

Javel là hỗn hợp của NaClO và NaOH. Khả năng diệt vi sinh sẽ được kiểm soát dựa vào hàm lượng clorin tự do trong nước (NaClO), sử dụng máy đo ORP và một đầu dò.
Tại một pH nhất định, điện thế đo được sẽ cho một kết quả hàm lượng clorin dư trong nước tương ứng. Vấn đề ở đây là kiểm soát pH như thế nào?
Nếu muốn tăng hàm lượng clorin nước thì phải tăng javel cấp vào, nhưng khi đó thì pH sẽ tăng và điện thế sẽ giảm (clorin sẽ giảm tương ứng). Nếu muốn giảm clorin thì làm ngược lại….
Khi tăng lượng javel cấp vào hệ thống giải nhiệt đồng nghĩa với việc tăng pH trong nước. Với việc duy trì mức độ pH cao thì hệ thống rất dễ bị ăn mòn (sau một thời gian có thể gây mục thiết bị).
Theo chuyên gia xử lý nước hệ thống giải nhiệt khuyến cáo nếu sử dụng javel với thời gian dài và duy trì ở nồng độ cao thì sau 1 thời gian hệ thống giải nhiệt sẽ bị mục và sụp đỗ.
Vậy có loại hóa chất nào có thể diệt vi sinh tốt không mà không ảnh hưởng đến thiết bị. Hay áp dụng chương trình xử lý nước như thế nào mà hóa chất diệt vi sinh gốc clorin vẫn không gây hại cho thiết bị?
1.      Hóa chất CALFA SAT (chứa clorin và Bromin)
2.      Sử dụng hóa chất ức chế ăn mòn và cáu cặn kết hợp với hóa chất diệt vi sinh để giải quyết các vấn đề thường gặp trong hệ thống giải nhiệt.
1.      Bảng các chỉ tiêu kiểm soát
Mô tả
Giới hạn kiểm soát (Hydroventure)
Chỉ tiêu
ĐVT
Nước mát (cooling)
Nước lạnh (chiller)
pH

7÷9
8÷10.5
Độ dẫn điện
µS/cm
<1000
<2,000
Độ kiềm tổng
mg/l
<200
-
Độ cứng tổng
mg/l
<200
-
Cân bằng canxi
%
90÷110
-
Tổng sắt
mg/l
<1
<1
Cloride
mg/l
-
-
Photphat hữu cơ
mg/l
2÷8
-
Tổng vi khuẩn
CFU/ ml
<105
-
Nitrit
mg/l

>800 













  2.      Ý nghĩa các chỉ tiêu

        Nước mát:

-         pH: Kiểm soát mức độ ăn mòn hóa học
-         Độ dẫn điện: Kiểm soát tốc độ ăn mòn do bào mòn
-         Độ kiềm tổng:
Trong nước mặt sẽ có khí cacbonic hòa tan. Khi kiểm soát pH trong nước từ 7-9 thì trong nước chủ yếu tồn tại iôn HCO3-. Đây là dạng iôn lưỡng tính, có thể phản ứng với độ cứng trong nước tạo một lớp màng mỏng để bảo vệ bề mặt kim loại.
Nếu kiểm soát pH ở mức độ nhỏ hơn 7, khí cacbonic hòa tan sẽ tồn tại dạng axit cacbonit nên có thể ăn mòn thiết bị.
Nếu pH lớn hơn 10, cân bằng sẽ chuyển dịch theo hướng tạo iôn cacbonate và phản ứng với các cation trong nước. Sự tạo thành hợp chất cacbonat ở mức độ vừa phải cũng là một thuận  cho hệ thống vì lớp màng mỏng muối cacbonat sẽ bảo vệ bề mặt thiết bị. Tuy nhiên nếu lớp màng này đủ lớn (gọi là cặn) sẽ làm giảm hiệu quả trao đổi nhiệt.
-         Độ cứng, clorit và cân bằng canxi:
Mối quan hệ giữa độ cứng, cloride trong nước cấp và nước mát sẽ giúp xác định cân bằng canxi trong nước.
Độ cứng càng cao thì xu hướng tạo kết tủa muối cứng càng lớn.
Clorit: Sự có mặt của clorit trong nước cấp thường là do công ty cấp thoát nước sử dụng hóa chất clorin để diệt khuẩn, nếu hàm lượng clo dư cao sẽ gây ăn mòn thiết bị.
-         Cân bằng canxi:
Khi cân bằng canxi nhỏ hơn 90%, nước mát có xu hướng tạo cáu cặn: Các iôn sẽ có xu hướng tạo kết tủa với các anion khác để hình thành cáu cặn.
Khi cân bằng caxi lớn hơn 110%, nước mát có tính chất ăn mòn: các hợp chất hình thành có xu hướng bị hòa tan, kể cả kim loại.
-         Sắt trong nước mát gồm
Sắt đi vào từ nước cấp: Sắt này sẽ bị cô đặc do nước bị bốc hơi và góp phần làm tăng nguy cơ đóng cáu cặn trong hệ thống.
Sắt hình thành do ăn mòn đường ống và thiết bị.
Khi hàm lượng sắt nhỏ hơn 1mg/l thì khả năng tạo kết tủa muối sắt được hạn chế.
-         Phophat:
Với nguồn nước giàu chất dinh dưỡng thì hàm lượng photphat hữu cơ sẽ cao, là nguồn thức ăn cho vi sinh phát triển.
Hàm lượng photphat nhỏ hơn 2mg/l sẽ không đủ để ức chế nguy cơ ăn mòn và đóng cáu cặn trong hệ thống.
-         Tổng vi khuẩn: Phản ảnh mức độ nhiễm vi sinh trong nước. Sự tồn tạo của vi sinh sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống (vui lòng xem tác hại của vi sinh). Một số dạng vi khuẩn sẽ sản sinh hợp chất gây ăn mòn như vi khuẩn phẩy sản sinh ra H2S, vi khuẩn hình que sản sinh ra H2SO4. Vi khuẩn quang hợp thải ra oxi, gây ăn mòn thiết bị.

       Nước lạnh

-         pH, độ dẫn điện, sắt: Tương tự như trong nước mát
-         Nitrit: Như Quý khách hàng được biết nước cấp cho hệ thống giải nhiệt kín là nước lấy ở nhiệt độ thường (ước tính khoảng 30oC), tại nhiệt độ này oxi hòa tan vào trong nước khoảng 7mg/l. Mặc dù trong nước cấp bổ sung sẽ có một lượng nitrit nhất định nhưng có thể không đủ để loại bỏ oxi hòa tan nên thường sử dụng thêm hóa chất gốc nitrit nhằm hạn chế mức độ ăn mòn do oxi tấn công.

Vi khuẩn Legionella pneumophila trong hệ thống lạnh được xác định là nguyên nhân gây ra bệnh dịch Legionnaire. Bệnh này lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1976 trong một nhóm người cao tuổi. Khi xảy ra ổ dịch đầu tiên nó đã gây sốc cho Mỹ và thế giới, bởi vì không ai biết lý do tại sao tất cả những người đàn ông tại sự kiện này đều được chẩn đoán suy hô hấp cấp tính. Tuy nhiên, gần mười ba năm sau, các nhà khoa học đã khám phá được rất nhiều về bệnh Legionnaire, vi khuẩn Legionella pneumophila cũng như các mầm bệnh nó gây ra.


Vi khuẩn Legionella là vi khuẩn hiếu khí, phát triển nhanh, có thể có các dạng khác nhau phụ thuộc vào môi trường sống.

Legionella pneumophila
Các vi khuẩn họ Legionella pneumophila hiện nay trên thế giới hầu hết đều rất nguy hiểm. Chúng gây ra bệnh viêm phổi với các tác động nghiêm trọng và gây tử vong từ 10% đến 12% ca bệnh.

L. pneumophila với loài Mycoplasma pneumoniae và Chlamydia pneumoniae là 03 nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh cho cộng đồng . Legionella Legionellaceae là 01 chi trong họ Legionellaceae, họ vi khuẩn này bao gồm khoảng 48 đến hơn 60 serogroups. Khoảng 20 loài liên quan đến bệnh của con người. Đa số các ca
nhiễm trùng là do vi khuẩn Legionella pneumophila. Trong số tất cả các Legionella pneumophila serogroups, serogroup 1 là tác nhân gây bệnh quan trọng nhất.
Bệnh viêm phổi Legionella.
Bệnh viêm phổi Legionella.
(Nguồn: Internet)

Độ dẫn điện của nước cúa sự ảnh hướng trực tiếp đến chất lượng nước trong hệ thống lạnh. Bạn đọc cần hiểu rõ về thông số này để hệ thống hoạt động tốt.

độ dẫn diện của nước của hệ thống lạnh

Độ dẫn điện của nước (Electrical Conductivity: EC ) liên quan đến sự có mặt của các ion trong nước. Các ion này thường là muối của kim loại như NaCl, KCl, SO2-4, NO-3, PO-4 v.v… Tác động ô nhiễm của nước có độ dẫn điện cao thường liên quan đến tính độc hại của các ion tan trong nước, gây nguy hại cho hệ thống : cáu cặn, ăn mòn…

Độ dẫn điện của nước phụ thuộc và tăng tỉ lệ thuận với nhiệt độ nước. Nhiệt độ nước tăng lên 100C thì độ dẫn điện của nước sẽ tăng 2-3%. Thông thường độ dẫn điện được đo ở nhiệt độ tiêu chuẩn là 250C.
Nước tinh khiết không phải là một chất dẫn điện tốt. Nước cất thông thường trong trạng thái cân bằng với lượng khí CO2 trong không khí có dẫn điện khoảng 20 dS/m. Bởi vì dòng điện được tạo ra bởi sự chuyển động của các dòng ion trong dung dịch, độ dẫn điện tăng lên khi nồng độ của các ion tăng lên.
Độ dẫn điện đặc trưng của một số loại nước:
-         Nước tinh khiết: 5,5 . 10-6 S / m.
-         Nước uống thông thường: 0,005 – 0,05 S / m.
-         Nước biển 5 S / m.
Để xác định độ dẫn điện, người ta thường dùng các máy đo điện trở, cường độ dòng điện hoặc bút đo độ dẫn điện.

Nguồn nước đưa vào hệ thống lạnh dù đã hoặc chưa xử lý, đều mang theo một dư lượng tạp chất hoặc chưa loại bỏ hoàn toàn trong quá trình xử lý sơ bộ. Đồng thời do phần lớn quá trình tích tụ lâu dài dưới nhiệt độ, áp suất cao và rong rêu hệ thống lạnh không được bảo trì tẩy rửa đúng kì hạn.


Sự tích tụ cáu cặn trong hệ thống sẽ là nguyên nhân ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất làm việc của hệ thống.

Việc kiểm soát đóng cáu cặn trong hệ thống giải nhiệt nhằm:

- Kiểm soát chu kì vận hành hệ thống :

- Tiền xử lý nước.

- Lắp đặt hệ thống xả đáy tự động hoặc bằng tay.

- Sử dụng hóa chất nhằm :

- Chống kết tủa: Trì hoãn sự hình thành các hạt sa lắng.

- Bẻ gãy cấu trúc tinh thể: hạn chế sự hình thành tinh thể lớn hơn.

- Phân tán: phân tán các hạt nhỏ không cho chúng kết hợp với nhau.